![]()
|
Windows XP Service Pack 2 có gì mới? Hồi thượng tuần tháng 8-2004, Microsoft đã bắt đầu cho download chính thức bản Service Pack 2 (SP2) cho Windows XP. Đây là bản có build 2180.
Để cài đặt SP2, yêu cầu máy bạn tối thiểu phải có CPU tốc độ 300MHz, 128MB RAM (bộ nhớ) và ổ cứng còn trống 800MB. Trong khi cài đặt, Setup sẽ tạo thư mục backup khoảng 350MB giúp bạn có thể gỡ bỏ SP2 để trở lại như cũ (vào Add or Remove Programs).
Trong bản SP2, ngoài việc “vá” những lỗ thủng (lỗi) khiến cho người dùng Windows bị virus “khủng bố” suốt trong thời gian qua, Microsoft đã cải tiến mạnh mẽ bốn thành phần cơ bản trong XP là mạng máy tính, bộ nhớ, e-mail và trình duyệt. Dưới đây là một số tính năng nổi bật trong bản SP2: * Các nâng cấp trong Control Panel - Windows Security Center: Chức năng mới trong Control Panel, cho phép theo dõi trạng thái, truy cập nhanh đến các hộp thoại thiết đặt bảo mật của các thành phần quan trọng như: Internet Option, System, Windows Update, Windows Firewall, phần mềm chống virus và kết nối nhanh với các Website dịch vụ của Microsoft để cập nhật thông tin.
- Windows Firewall: Windows Firewall có giao diện thân thiện và dễ sử dụng hơn tiện ích mà nó thay thế là Internet Connection Firewall. Nó có “trách nhiệm” ngăn cản mọi kết nối bất hợp pháp giữa máy tính của bạn và mạng. Theo mặc định, chức năng này luôn mở sau khi cài XP.
Để thay đổi xác lập, bạn vào Control Panel/ Windows Firewall. Trong bảng General, mục On đang được chọn để ngăn chặn mọi kết nối ngoại trừ các kết nối cho phép trong danh sách Exceptions, nếu mục Don’t allow exceptions được đánh dấu, danh sách Exceptions sẽ bị bỏ qua (chặn tất cả); chọn Off sẽ tắt chức năng Firewall. Mỗi khi máy chạy ứng dụng có kết nối Internet lần đầu tiên, Firewall sẽ cho hiển thị hộp cảnh báo để bạn chọn lựa cho đưa vào danh sách loại trừ (Unblock) hay không cho kết nối (blocking).
Trong bảng Exceptions, bạn chỉ định các chương trình được phép kết nối với nút Add Program, chọn cổng kết nối với nút Add Port, xóa chương trình khỏi danh sách với nút Delete. Bảng Advanced cho phép bạn xác lập các dịch vụ được phép cho từng mối kết nối qua modem hay mạng nội bộ và tự động phục hồi lại các xác lập mặc định của Windows bằng nút Restore Defaults.
- Add or Remove Programs: Danh sách phần mềm liệt kê trong cửa sổ Add or Remove Programs gọn gàng và dễ quản lý hơn với việc bổ sung tính năng phân loại các bản nâng cấp của phần mềm. Các bản nâng cấp sẽ được liệt kê chung nhóm với phần mềm và bạn có thể tuỳ chọn cho hiển thị chúng (Show updates) hay không.
- Automatic Update: Windows Update được nâng cấp lên phiên bản 5.0 và được cho hiệu lực ngay sau khi cài SP2, bạn có thể điều chỉnh lịch (mỗi ngày, hàng tuần) cập nhật cho Windows (truy cập Website Microsoft để tự động tải các bản cập nhật (nếu có) về cài đặt. Bạn có thể chỉ định cho tải bản cập nhật về để cài sau (Download update for me...) hay chỉ thông báo khi có bản cập nhật mới (Notify me...) hay tắt luôn chức năng này (Turn off...) cũng được.
* Các nâng cấp cho Internet Explorer (IE) - Information Bar: Đây là thanh thông báo xuất hiện phía dưới thanh công cụ (toolbar) của IE mỗi khi các chức năng bảo vệ hoạt động (cài hay chạy ActiveX, mở pop-up, tải file...). Bấm chuột vào thanh này sẽ có các hướng dẫn chi tiết hay mở menu có các lịnh xử lý tình huống.
- Manage Add-Ons: Một số phần mềm sau khi cài đặt sẽ tự động “chèn” (plug-in hay add-on) vào IE như một công cụ trên thanh Toolbar. Chức năng này giúp bạn dể dàng quản lý chúng, bạn có thể quyết định cho cài đặt, xem liệt kê và cho hiệu lực hay vô hiệu các phần mềm cộng thêm này.
Để sử dụng, mở menu View/ Manage add-ons -> chọn Add-ons currently loaded... (đang chạy) hay Add-ons that have been used by Internet Explorer (tất cả) trong khung Show. Trong cửa sổ liệt kê, bạn chọn thành phần cần thay đổi rồi bấm chọn Disable (cấm chạy) hay Enable (cho chạy) trong khung Settings, nếu đó là một ActiveX thì bạn có thể cập nhật với nút Update ActiveX. Để tắt thông báo Add-ons bị cấm chạy, bạn mở menu Tools/ Internet Options -> bảng Advanced -> bỏ chọn mục Browsing/ Notify when Add-ons disabled.
- Pop-Up Blocking: Với chức năng này, Microsoft đã “khai tử” các cửa sổ quảng cáo tự bung (pop-up) khi bạn truy cập Internet. Theo mặc định, chức năng này sẽ được mở và bạn có thể tắt khi chọn lịnh Turn off Pop-up Blocker trong menu Tools/ Pop-up Blocker. Khi có pop-up bị chặn sẽ xuất hiện thanh thông báo (Information Bar) để cung cấp cho bạn vài xử lý nhanh (bấm chuột vào thanh này để mở menu tuỳ chọn): Show Blocked Pop-up (xem lại pop-up đã chặn), Allow Pop-ups from This Site (cho phép pop-up của site này), Turn off Information Bar for Blocked Pop-ups (không hiện thanh thông báo chặn pop-up). Pop-up Blocker Settings (xác lập danh sách các trang Web cho phép pop-up và mức độ chặn pop-up
* Các nâng cấp cho Outlook Express (OE)
- Để phòng ngừa virus tích cực hơn, OE đã được bổ sung tính năng chặn tất cả hình ảnh gởi kèm theo thư, nhưng vẫn cho phép bạn tải chúng về khi cần xem (khi có hình bị chặn, trong thư sẽ xuất hiện thông báo và bạn có thể bấm chuột để tải hình về) và ngăn không cho thực thi các mã lịnh (script) nhúng trong thư có định dạng HTML.
- Việc tải về, xem và thực thi các file đính kèm trong OE được kết hợp chung với IE qua một tính năng mới gọi là Attachment Execution Service (AES). Theo mặc định, mỗi khi bạn tải về, kéo (drag), lưu, mở, hay in file đều có hộp cảnh báo xuất hiện. Các file kèm sẽ được phân loại theo tên mở rộng và bạn có thể chọn cách xử lý mặc định đối với mỗi kiểu file để sau này không xuất hiện hộp cảnh báo nửa.
Hy vọng các bạn an toàn hơn trên mạng sau khi cài đặt Service Pack 2 của Windows XP. LÊ HOÀN(Bài đăng trên e-CHÍP số 108) TRỞ VỀ TRANG CHỦ | TRỞ VỀ TRANG MỤC LỤC BÀI VIẾT Copyright © 1999-2004 Pham Hong Phuoc Homepage |